Tài liệu

Viết đoạn văn phân tích 8 câu cuối Kiều ở lầu Ngưng Bích

Đoạn văn phân tích 8 câu cuối truyện Kiều ở lầu Ngưng Bích.

  • 1. Đoạn văn phân tích 8 câu thơ cuối của Truyện Kiều ở lầu Ngưng Bích, mẫu 1
  • 2. Đoạn văn phân tích 8 câu thơ cuối của Truyện Kiều ở lầu Ngưng Bích, văn mẫu 2
  • 3. Đoạn văn phân tích 8 câu thơ cuối của Truyện Kiều ở lầu Ngưng Bích, văn mẫu 3
  • 4. Đoạn văn phân tích 8 câu thơ cuối của Truyện Kiều ở lầu Ngưng Bích, văn mẫu 4
  • 5. Đoạn văn miêu tả tâm trạng Kiều ở lầu Ngưng Bích 8 câu cuối.

Viết đoạn văn phân tích 8 câu cuối bài Kiều ở lầu Ngưng Bích – 8 câu cuối bài Kiều ở lầu Ngưng Bích cho người đọc cảm nhận được nỗi buồn vô hạn cũng như số phận bất hạnh của Thúy Kiều. Trong bài viết này, Hoán xin chia sẻ một số đoạn văn phân tích 8 câu cuối truyện Kiều ở lầu Ngưng Bích, viết đoạn văn cảm nhận 8 câu cuối truyện Kiều ở lầu Ngưng Bích, đoạn văn miêu tả tâm trạng của nàng Kiều. trên lầu Ngông. Bích 8 câu cuối. Mời các bạn cùng tham khảo.

Mời bạn bè tham gia nhóm Bạn đã học chưa? để cập nhật những kiến ​​thức mới bổ ích về du học cùng Thoidaihaitac.

  • Top 7 bài văn phân tích nhân vật Lục Vân Tiên siêu hay

1. Đoạn văn phân tích 8 câu thơ cuối của Truyện Kiều ở lầu Ngưng Bích, mẫu 1

Tám câu thơ cuối đoạn thơ “Kiều ở lầu Ngưng Bích” trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du đã tạo nên bốn bức tranh phong cảnh qua con mắt của Thúy Kiều, qua đó bộc lộ tâm trạng đau buồn và số phận bất hạnh của nàng. Mỗi bức tranh đều mở đầu bằng hai chữ “buồn trông” diễn tả nỗi buồn sâu thẳm vô tận của Kiều, dường như không có bóng người ở đây mà chỉ có ánh mắt của nhân vật hay nói đúng hơn là chỉ có tâm trạng. . Hình ảnh “cánh buồm xa xa” một mình nơi “cửa hồ chiều tà” thể hiện nỗi nhớ quê hương da diết của Kiều. Phải chăng “hoa trôi” giữa “dòng nước mới” là tâm trạng bi thương, số phận bồng bềnh, vô định của nàng? Và Kiều càng chìm sâu vào nỗi buồn khiến cảnh vật xung quanh như thấm thêm nỗi đau tê tái. “Giữa cỏ buồn” giữa “chân mây, mặt đất còn xanh” hay là tâm trạng đau đớn của nàng trước tương lai đen tối, u ám? Ngoài biển, tiếng sóng dữ dội của “sóng ầm ầm” dường như biểu thị cho sự hoảng sợ và sự đe dọa đang bủa vây cuộc sống của nàng, thiên nhiên hung dữ cũng là điềm báo trước một tai họa sắp xảy ra. với Kiều, sẵn sàng chôn nhau cắt rốn! Tám dòng cuối của bài thơ là một bức tranh thiên nhiên, nhưng ta vẫn thấy được bên trong thấm đẫm tâm trạng nhân vật, là ở đó bút pháp độc đáo của Nguyễn Du. Thơ ông luôn lấy những khung cảnh rất chân thực, rất đời thường và những âm thanh vô cùng sống động của thiên nhiên làm nền cho hoạt động nội tâm của nhân vật. Ở tám câu thơ cuối, những hình ảnh và âm thanh đó là: cửa biển, cánh buồm, hoa trôi, ngọn cỏ, tiếng sóng ầm ầm,… tất cả đều được miêu tả theo lối văn miêu tả khái quát. bằng ký hiệu và ngôn ngữ quy ước, công thức. Tám dòng cuối của bài thơ “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là một đoạn thơ hay và độc đáo trong Truyện Kiều, những câu thơ vừa có nhạc vừa có họa đã tạo nên một giai điệu sâu lắng trong lòng người, và không chỉ có cảnh trong. nó. Thiên nhiên, tâm trạng của nhân vật mà cũng là tiếng lòng của thi nhân, Nguyễn Du đã dành sự thương cảm, xót xa, chua xót cho kiếp người “hồng nhan bạc mệnh”.

2. Đoạn văn phân tích 8 câu thơ cuối của Truyện Kiều ở lầu Ngưng Bích, văn mẫu 2

Tám dòng thơ, mỗi dòng một đôi gợi một nỗi buồn da diết. “Buồn nhìn” là buồn nhưng nhìn đi, cũng buồn nhưng mong chờ một điều gì đó mơ hồ sẽ đến để thay đổi hoàn cảnh hiện tại. Cô như khao khát một cánh buồm, nhưng cánh buồm chỉ thoáng qua, xa xăm không rõ, như một ước vọng mơ hồ, càng ngày càng xa. Cô lại nhìn dòng nước mới từ cửa sông đổ ra biển (theo Lê Văn Hòe), sóng xô cánh hoa trôi không biết trôi về đâu. Ngồi trên lầu cao làm sao có thể nhìn thấy những cánh hoa trên mặt nước. Đây chỉ là sự tưởng tượng của cô về số phận của mình. Cô nhìn thấy đồng cỏ khô héo, chân trời mây mù, mặt đất một màu xanh biếc, như tối tăm không có chân trời. Cô ấy “nhìn gió thổi lồng lộng”. “Dương” là nơi biển ăn sâu vào đất liền, tạo thành từ vựng (theo Thạch Giang). “Gió thổi bề mặt” làm sóng vỗ, ầm ầm… Tất nhiên, cho dù lầu Ngưng Bích rất gần bãi biển, bạn cũng không thể nghe thấy tiếng “sóng vỗ quanh ghế”. Đây là một hình ảnh vừa thực vừa ảo, cảm giác như sóng vỗ dưới chân cô, đầy nguy hiểm, như muốn nhấn chìm cô xuống vực sâu. Tám dòng thơ, mỗi câu vừa đúng vừa sai, vừa là cảnh thực vừa là tâm trạng. Tất cả đều là hình ảnh của sự vô vọng, trôi dạt, bế tắc và chao đảo, lật đổ. Đây là lúc tình cảm của Kiều trở nên mong manh và yếu đuối nhất, là lúc nàng dễ dàng rơi vào cạm bẫy, chẳng khác nào sau này sẽ rơi vào tay Chu Khanh. Trong bài thơ này, không gian bao la choáng ngợp, không có một bóng người. Thời gian như tích tụ lại, không biết có bao nhiêu buổi sáng và buổi chiều lặp lại. Con người trở nên nhỏ bé, bơ vơ, đơn độc. Nghệ thuật trùng điệp như kéo dài nỗi buồn vô vọng, vô tận của con người.

3. Đoạn văn phân tích 8 câu thơ cuối của Truyện Kiều ở lầu Ngưng Bích, văn mẫu 3

Qua tám câu thơ cuối của đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, Nguyễn Du đã gián tiếp miêu tả tâm trạng của Kiều bằng một bút pháp hết sức đặc sắc tả cảnh ngụ tình. Hình ảnh cánh buồm thấp thoáng giữa đại dương bao la trong buổi chiều tà gợi không gian quê hương xa xăm và không khí tĩnh lặng, qua đó thể hiện rõ niềm khao khát quê hương trong lòng Kiều. Còn hình ảnh “hoa trôi dạt dào” là hình ảnh hiện thực về những bông hoa trôi lênh đênh, bấp bênh trên mặt nước, bị sóng đánh, xô đẩy, qua đó thể hiện tâm trạng buồn và những linh cảm tinh tế. Tương lai của Thúy Kiều không biết sẽ đi về đâu? Ôi, những cánh hoa mỏng manh như nâng đỡ nàng Kiều đang ôm nỗi lo cho một số phận bất trắc trong cuộc đời. Hình ảnh “nội tâm buồn bã” kéo dài đến tận “tận đáy mây” vẫn chỉ hiện lên một màu xanh héo úa vẽ nên khung cảnh ảm đạm, héo úa, gợi cho người đọc cảm nhận được nỗi buồn triền miên, tuyệt vọng của Thúy Kiều. Hai câu thơ cuối tả cảnh “gió thổi lồng lộng” và âm thanh “sóng vỗ rì rào” gợi lên rõ nét cả hình ảnh và âm thanh của những cơn giông tố dữ dội sắp ập đến với cuộc đời Kiều, khiến ta xúc động khôn nguôi. , Nguyễn Du còn dùng điệp ngữ “buồn trông” đặt ở đầu các câu thơ để liên kết các hình ảnh. Ngoài ra, từ “buồn trông” có hai thanh điệu bằng nhau được lặp lại bốn lần trong bốn cặp lục bát tạo nên âm hưởng trầm buồn gợi tả nỗi buồn kéo dài. Tám dòng thơ, bốn hình ảnh thiên nhiên, bốn ám chỉ đã miêu tả phong phú và tinh tế mọi sắc thái nội tâm của Thúy Kiều.

4. Đoạn văn phân tích 8 câu thơ cuối của Truyện Kiều ở lầu Ngưng Bích, văn mẫu 4

Tám dòng thơ cuối với lối thơ tả cảnh ngụ tình đã làm nổi bật tâm trạng đau buồn, trăn trở của Kiều. Điệp khúc “buồn trông” được lặp lại 4 lần tạo âm hưởng trầm buồn, trở thành điệp khúc thể hiện nỗi buồn đang dâng lên tầng tầng lớp lớp trong lòng Kiều. Cảnh sắc thiên nhiên qua đôi mắt của Kiều gợi lên nỗi buồn sâu lắng. Những cánh buồm chập chờn, thoắt ẩn thoắt hiện nơi cửa bể trong buổi chiều tà gợi một hành trình lang thang trong bóng tối, không biết đâu là bến bờ. Cánh hoa trôi trên đầu nước mới gợi thân phận nhỏ bé, mong manh, trôi trên dòng đời vô định, chẳng biết đi về đâu. Cỏ thê lương trải ở chân mây trên mặt đất gợi lên một cuộc đời héo hon, bi thương và vô vọng sẽ tồn tại mãi mãi. Hình ảnh “gió thổi lồng lộng” cùng tiếng sóng biển ầm ầm “vỗ quanh ghế” gợi cảm giác sợ hãi, sợ hãi như báo trước, đúng lúc này, giông tố số phận sẽ nổi lên, chen lấn xô đẩy. , chôn vùi cuộc đời Kiều. Các từ láy “xa vắng” man mác, man mác, buồn bã, xanh ngắt đã góp phần thể hiện tâm trạng buồn bã, cô đơn, ngày càng dâng cao của Kiều. Chọn những hình ảnh tả thực nhưng Nguyễn Du đã miêu tả bằng những đường nét tinh tế. Khung cảnh thiên nhiên làm nền cho các hoạt động nội tâm của nhân vật. Cảnh vật từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động, buồn từ man mác, mơ hồ đến lo lắng, hãi hùng. Từ đó, nỗi cô đơn, thân phận trôi vô định, nỗi buồn thương, bàng hoàng sợ hãi trước những tai họa đang bủa vây, đè bẹp Kiều. Nó dường như đang báo trước tương lai khủng khiếp đang chờ đợi cô. Tôi thấy tiếc cho thân phận của nàng Kiều!

5. Đoạn văn miêu tả tâm trạng Kiều ở lầu Ngưng Bích 8 câu cuối.

Bị giam ở lầu Ngưng Bích, Kiều nhớ đến Kim Trọng và gia đình. Tuy nhiên, sau tất cả những khao khát, mong mỏi của người thân, Kiều đã trở về thực tại để đối mặt với bi kịch của chính mình. Bức ảnh nội y của cô được mở đầu bằng cụm từ “buồn trông”. Hình ảnh cánh buồm lẻ loi nơi cửa bể không chỉ làm nổi bật cảm giác lạnh lẽo, choáng ngợp của không gian mà còn thể hiện nỗi nhớ nhà, cuộc sống lang bạt của nàng Kiều. Phải chăng hình ảnh của những cánh hoa mỏng manh, nhỏ bé như cuộc đời của nàng, bồng bềnh, vu vơ, không thấy bến bờ. Câu hỏi tu từ “Hoa trôi về đâu?” càng làm nổi bật nỗi cô đơn, tuyệt vọng và bế tắc của Thúy Kiều. Cảnh vật xung quanh dường như cũng thấu hiểu nỗi buồn của con người mà trở nên buồn bã, sầu muộn “trong cỏ”, chân mây mênh mông nhưng chỉ còn lại một màu xanh bàng bạc, không một chút u buồn. cuộc sống. Tiếng sóng dữ dội ngoài trời như một điềm báo không may mắn về một tương lai đầy sóng gió và trắc trở của nàng “Tiếng sóng cuộn quanh chỗ ngồi”. Tám câu thơ cuối nhà thơ tập trung miêu tả khung cảnh thiên nhiên lầu Ngưng Bích nhưng qua đó làm nổi bật lên bức tranh tâm trạng buồn đau, xót xa của một kiếp người.

Mời các bạn tham khảo thêm những thông tin hữu ích khác trên chuyên mục Học tập – Lớp 9 của Thoidaihaitac.vn.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Check Also
Close
Back to top button